|
QUỐC HỘI
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT <st1:country-region w:st="on">NAM</st1:country-region>
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Luật số: 42/2013/QH13
|
Hà Nội, ngày 25 tháng 11
năm 2013
|
LUẬT
Tiếp công dân
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt <st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region>;
Quốc hội ban hành Luật Tiếp công
dân.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi
điều chỉnh
1. Luật này quy định về trách nhiệm
tiếp công dân; quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh; việc tổ chức hoạt động tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân, địa
điểm tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị và điều kiện bảo đảm cho hoạt
động tiếp công dân.
2. Việc tiếp đại diện của cơ quan, tổ
chức đến khiếu nại, kiến nghị, phản ánh, tiếp người nước ngoài đến khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh được thực hiện như đối với tiếp công dân.
Điều 2. Giải thích
từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây
được hiểu như sau:
1. Tiếp công dân là việc cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật này đón tiếp để
lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải
thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh theo đúng quy định của pháp luật.
Tiếp công dân bao gồm tiếp công dân
thường xuyên, tiếp công dân định kỳ và tiếp công dân đột xuất.
2. Kiến nghị, phản ánh là việc
công dân cung cấp thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải pháp
với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan
đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản
lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức,
đơn vị, cá nhân đó.
3. Nơi tiếp công dân bao gồm Trụ
sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân hoặc nơi làm việc khác do cơ quan, tổ
chức, đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân bố trí và phải được thông báo công
khai hoặc thông báo trước cho người được tiếp.
Điều 3. Nguyên tắc
tiếp công dân
1. Việc tiếp công dân phải được tiến
hành tại nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
2. Việc tiếp công dân phải bảo đảm công
khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và bảo đảm an
toàn cho người tố cáo theo quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, bình
đẳng, không phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân.
3. Tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi
cho công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy
định của pháp luật.
Điều 4. Trách nhiệm
tiếp công dân
1. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm
tổ chức tiếp công dân bao gồm:
a) Chính phủ;
b) Bộ, cơ quan ngang bộ; tổng cục và tổ
chức tương đương; cục;
c) Ủy ban nhân dân các cấp;
d) Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
đ) Các cơ quan của Quốc hội;
e) Hội đồng nhân dân các cấp;
g) Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân, Kiểm toán nhà nước.
2. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của Luật này và các
văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
3. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ
chức chính trị - xã hội, cơ quan thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập tổ
chức việc tiếp công dân phù hợp với yêu cầu, quy mô, tính chất hoạt động của cơ
quan, tổ chức, đơn vị mình.
Căn cứ vào quy định của Luật này, cơ
quan trung ương của tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ
chức chính trị - xã hội quy định về việc tiếp công dân trong cơ quan, tổ chức
thuộc hệ thống mình; Chính phủ quy định cụ thể việc tiếp công dân tại các cơ
quan thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập.
Điều 5. Quản lý
công tác tiếp công dân
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà
nước về công tác tiếp công dân; trực tiếp quản lý công tác tiếp công dân của
các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và địa phương.
Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân
dân các cấp thực hiện quản lý công tác tiếp công dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình.
2. Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách
nhiệm chỉ đạo, điều hòa, phối hợp việc tổ chức hoạt động tiếp công dân của các
cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội.
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm tổ chức và quản lý công tác tiếp công dân của Tòa án nhân dân
các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, các đơn vị thuộc Kiểm toán nhà nước.
Các cơ quan quy định tại khoản này có
trách nhiệm định kỳ tổng kết và thông báo kết quả tổ chức tiếp công dân thuộc
phạm vi quản lý của cơ quan mình cho Chính phủ để tổng hợp chung báo cáo Quốc
hội.
Điều 6. Các hành vi
bị nghiêm cấm
1. Gây phiền hà, sách nhiễu hoặc cản
trở người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
2. Thiếu trách nhiệm trong việc tiếp
công dân; làm mất hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu do người khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh cung cấp.
3. Phân biệt đối xử trong khi tiếp công
dân.
4. Lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh để gây rối trật tự công cộng.
5. Xuyên tạc, vu khống, gây thiệt hại
cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.
6. Đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức,
đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ.
7. Kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, lôi kéo,
mua chuộc người khác tập trung đông người tại nơi tiếp công dân.
8. Vi phạm các quy định khác trong nội
quy, quy chế tiếp công dân.
Chương II
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
NGƯỜI ĐẾN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH; TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI TIẾP
CÔNG DÂN
Điều 7. Quyền và nghĩa
vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Khi đến nơi tiếp công dân, người
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các quyền sau đây:
a) Trình bày về nội dung khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh;
b) Được hướng dẫn, giải thích về nội
dung liên quan đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình;
c) Khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm
pháp luật của người tiếp công dân;
d) Nhận thông báo về việc tiếp nhận,
kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;
đ) Trường hợp người khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh không sử dụng thông thạo tiếng Việt thì có quyền sử dụng
người phiên dịch;
e) Các quyền khác theo quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
2. Khi đến nơi tiếp công dân, người
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các nghĩa vụ sau đây:
a) Nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất
trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có);
b) Có thái độ đúng mực, tôn trọng đối
với người tiếp công dân;
c) Trình bày trung thực sự việc, cung
cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh; ký hoặc điểm chỉ xác nhận những nội dung trình bày đã được người tiếp
công dân ghi chép lại;
d) Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy tiếp
công dân và hướng dẫn của người tiếp công dân;
đ) Trường hợp nhiều người cùng khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung thì phải cử người đại diện để
trình bày nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;
e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về
nội dung khiếu nại, tố cáo của mình.
Điều 8. Trách nhiệm
của người tiếp công dân
1. Khi tiếp công dân, người tiếp công
dân phải bảo đảm trang phục chỉnh tề, có đeo thẻ công chức, viên chức hoặc phù
hiệu theo quy định.
2. Yêu cầu người đến khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân,
giấy ủy quyền (nếu có); có đơn hoặc trình bày rõ ràng nội dung khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh; cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc tiếp
nhận, thụ lý vụ việc.
3. Có thái độ đứng mực, tôn trọng công
dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc ghi
chép đầy đủ, chính xác nội dung mà người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh trình bày.
4. Giải thích, hướng dẫn cho người đến
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh chấp hành chủ trương, đường lối, chính
sách, pháp luật, kết luận, quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật của
cơ quan có thẩm quyền; hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
đến đúng cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết.
5. Trực tiếp xử lý hoặc phân loại,
chuyển đơn, trình người có thẩm quyền xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh; thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công
dân.
6. Yêu cầu người vi phạm nội quy nơi
tiếp công dân chấm dứt hành vi vi phạm; trong trường hợp cần thiết, lập biên
bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp
luật.
Điều 9. Những
trường hợp được từ chối tiếp công dân
Người tiếp công dân được từ chối tiếp
người đến nơi tiếp công dân trong các trường hợp sau đây:
1. Người trong tình trạng say do dùng
chất kích thích, người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
2. Người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ
quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành
vi khác vi phạm nội quy nơi tiếp công dân;
3. Người khiếu nại, tố cáo về vụ việc
đã giải quyết đúng chính sách, pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
kiểm tra, rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng
dẫn nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài;
4. Những trường hợp khác theo quy định
của pháp luật.
Chương III
TIẾP CÔNG DÂN TẠI TRỤ SỞ
TIẾP CÔNG DÂN Ở TRUNG ƯƠNG, TRỤ SỞ TIẾP CÔNG DÂN CẤP TỈNH, TRỤ SỞ TIẾP CÔNG DÂN
CẤP HUYỆN; VIỆC TIẾP CÔNG DÂN Ở CẤP XÃ
Điều 10. Trụ sở
tiếp công dân
1. Trụ sở tiếp công dân là nơi để công
dân trực tiếp đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với lãnh đạo Đảng, Nhà
nước ở trung ương hoặc lãnh đạo Đảng, chính quyền ở địa phương; có đại diện của
một số cơ quan, tổ chức tại trung ương hoặc địa phương tham gia tiếp công dân
thường xuyên và là nơi để lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở trung ương hoặc địa phương
trực tiếp tiếp công dân trong những trường hợp cần thiết.
2. Trụ sở tiếp công dân bao gồm:
a) Trụ sở tiếp công dân ở trung ương;
b) Trụ sở tiếp công dân ở tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh);
c) Trụ sở tiếp công dân ở quận, huyện,
thành phố, thị xã thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Trụ sở tiếp công dân cấp
huyện).
3. Ban tiếp công dân được thành lập để
trực tiếp quản lý Trụ sở tiếp công dân ở mỗi cấp; phối hợp cùng đại diện cơ
quan, tổ chức hữu quan tổ chức, thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại
Trụ sở tiếp công dân và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân;
b) Giải thích, hướng dẫn công dân thực
hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật;
c) Phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh được tiếp nhận tại Trụ sở tiếp công dân; thực hiện
việc chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được tiếp nhận nhưng
không thuộc phạm vi, trách nhiệm xử lý của cơ quan, tổ chức tham gia tiếp công
dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân;
d) Theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức,
đơn vị có thẩm quyền xử lý, trả lời về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh mà Ban tiếp công dân đã chuyển đến;
đ) Tổng hợp tình hình, kết quả công tác
tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân; báo cáo định kỳ và đột xuất với cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền.
4. Cơ quan, tổ chức tham gia tiếp công
dân tại Trụ sở tiếp công dân có trách nhiệm cử đại diện tham gia thực hiện việc
tiếp công dân thường xuyên để tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh về nội dung thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức mình tại Trụ sở tiếp
công dân.
5. Chính phủ quy định chi tiết nhiệm
vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các Ban tiếp công dân; việc bố trí cơ sở vật
chất của Trụ sở tiếp công dân; quy chế phối hợp hoạt động tiếp công dân tại Trụ
sở tiếp công dân.
Điều 11. Tiếp công
dân tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương
1. Trụ sở tiếp công dân ở trung ương
được đặt tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, là nơi tiếp công dân đến khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với các cơ quan trung ương của Đảng, Chủ tịch
nước, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ.
2. Ban tiếp công dân trung ương thuộc
Thanh tra Chính phủ, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các Trụ sở tiếp công
dân ở trung ương.
3. Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban
Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn
phòng Chính phủ, Ban dân nguyện thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội cử đại diện
phối hợp cùng Ban tiếp công dân trung ương thực hiện việc tiếp công dân thường
xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương.
4. Phạm vi tiếp nhận, xử lý khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương được thực
hiện theo quy định sau đây:
a) Đại diện Văn phòng Trung ương Đảng
tiếp nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh về chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng; tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo về công tác xây dựng Đảng và những vấn
đề khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của các ban đảng trung ương, trừ các nội dung
quy định tại điểm b và điểm c khoản này;
b) Đại diện Ủy ban Kiểm tra Trung ương
tiếp nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Ủy ban Kiểm tra Đảng các cấp; tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo về
những vấn đề liên quan đến kỷ luật Đảng, phẩm chất cán bộ, đảng viên, về sinh
hoạt trong nội bộ tổ chức Đảng thuộc thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra Trung ương;
c) Đại diện Ban Nội chính Trung ương
tiếp nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Ban Nội chính các cấp; tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực
nội chính và phòng, chống tham nhũng;
d) Đại diện Ban dân nguyện thuộc Ủy ban
thường vụ Quốc hội tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh gửi
đến Chủ tịch Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội;
đ) Đại diện Văn phòng Chủ tịch nước
tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước;
e) Đại diện Văn phòng Chính phủ tiếp
nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến chủ trương,
chính sách, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đến trách nhiệm của
nhiều bộ, nhiều ngành;
g) Ban tiếp công dân trung ương tiếp
nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không thuộc các nội dung quy
định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này.
5. Tổng Thanh tra Chính phủ, Chủ nhiệm
Văn phòng Chính phủ trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân ở trung
ương ít nhất 01 ngày trong 01 tháng và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất
trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật này.
6. Tổng Thanh tra Chính phủ quy định
nội quy tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương.
Điều 12. Tiếp công
dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh
1. Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh được
tổ chức ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, là nơi tiếp công dân đến
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với Tỉnh ủy, Thành ủy (sau đây gọi chung
là Tỉnh ủy), Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh.
2. Ban tiếp công dân cấp tỉnh do Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh thành lập, trực thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, do
một Phó Chánh Văn phòng phụ trách, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý Trụ sở
tiếp công dân cấp tỉnh.
3. Văn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra
Tỉnh ủy, Ban Nội chính Tỉnh ủy, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh cử đại diện phối hợp cùng Ban tiếp công dân cấp tỉnh thực
hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh.
4. Phạm vi tiếp nhận, xử lý khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh được thực hiện
theo quy định sau đây:
a) Đại diện Văn phòng Tỉnh ủy tiếp
nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng;
tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo về công tác xây dựng Đảng và những vấn đề
khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Tỉnh ủy;
b) Đại diện Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy
tiếp nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Ủy ban kiểm tra Đảng cấp mình và cấp dưới; tiếp nhận, xử lý khiếu nại,
tố cáo về những vấn đề liên quan đến kỷ luật Đảng, phẩm chất cán bộ, đảng viên,
về sinh hoạt trong nội bộ tổ chức Đảng thuộc thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra
Tỉnh ủy;
c) Đại diện Ban Nội chính cấp tỉnh tiếp
nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của Ban Nội chính cấp tỉnh; tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực nội
chính và phòng, chống tham nhũng thuộc thẩm quyền của Ban Nội chính cấp tỉnh;
d) Đại diện Văn phòng Đoàn đại biểu
Quốc hội và Hội đồng nhân dân tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh với đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương, với
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
Quốc hội, Hội đồng nhân dân;
đ) Ban tiếp công dân cấp tỉnh tiếp
nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến trách nhiệm
của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, những vấn đề cần báo
cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho ý kiến chỉ đạo; về chủ trương, quyết
định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
không thuộc các nội dung quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này.
5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh ít nhất 01 ngày trong
01 tháng và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất trong các trường hợp quy định
tại khoản 3 Điều 18 của Luật này.
6. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
ban hành nội quy tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh.
Điều 13. Tiếp công
dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện
1. Trụ sở tiếp công dân cấp huyện được
thành lập ở mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, là nơi tiếp công dân
đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy, Thành
ủy (sau đây gọi chung là Huyện ủy), Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp
huyện.
2. Ban tiếp công dân cấp huyện do Ủy
ban nhân dân cấp huyện thành lập, trực thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân cấp huyện, do một Phó Chánh Văn phòng phụ trách, chịu trách nhiệm
trực tiếp quản lý Trụ sở tiếp công dân cấp huyện.
3. Văn phòng Huyện ủy, Ủy ban kiểm tra
Huyện ủy cử đại diện phối hợp cùng Ban tiếp công dân cấp huyện thực hiện việc
tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện.
4. Phạm vi tiếp nhận, xử lý khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện được thực hiện
theo quy định sau đây:
a) Đại diện Văn phòng Huyện ủy tiếp
nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng;
tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo về công tác xây dựng Đảng thuộc thẩm quyền
của Huyện ủy;
b) Đại diện Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy
tiếp nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh những vấn đề liên quan đến chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Kiểm tra Đảng cấp huyện và cấp dưới; tiếp nhận,
xử lý khiếu nại, tố cáo về những vấn đề liên quan đến kỷ luật Đảng, phẩm chất
cán bộ, đảng viên, về sinh hoạt trong nội bộ tổ chức Đảng thuộc thẩm quyền của
Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy;
c) Ban tiếp công dân cấp huyện tiếp
nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về các nội dung liên quan
đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp huyện; trách
nhiệm của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, những vấn đề cần
báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cho ý kiến chỉ đạo; về chủ trương,
quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện và các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh không thuộc các nội dung quy định tại điểm a và điểm b khoản này.
5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện ít nhất 02 ngày
trong 01 tháng và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất trong các trường hợp
quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật này.
6. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
ban hành nội quy tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện.
Điều 14. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Trưởng Ban tiếp công dân
1. Quản lý, điều hành hoạt động tại Trụ
sở tiếp công dân; điều hành, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của người tiếp
công dân của cơ quan, tổ chức tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở
tiếp công dân.
2. Phân công công chức thực hiện việc
tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân.
3. Chủ trì, phối hợp với đại diện cơ
quan, tổ chức tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân và
cơ quan, tổ chức hữu quan khác chuẩn bị cho lãnh đạo cơ quan Đảng, Nhà nước ở
trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
tiếp công dân.
4. Yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ
chức, đơn vị có liên quan cử người có trách nhiệm đến Trụ sở tiếp công dân để
phối hợp tham gia tiếp công dân khi có vụ việc phức tạp hoặc trong trường hợp
cần thiết khác.
5. Yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ
chức, đơn vị, người có thẩm quyền xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp
luật về tiếp công dân, nội quy, quy chế tiếp công dân.
Điều 15. Việc tiếp
công dân ở xã, phường, thị trấn
1. Việc tiếp công dân của cấp ủy, Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn được thực hiện tại trụ sở
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp
xã).
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực
tiếp phụ trách công tác tiếp công dân ở cấp xã và thực hiện các nhiệm vụ sau
đây:
a) Ban hành nội quy tiếp công dân;
b) Bố trí địa điểm thuận lợi và các
điều kiện cần thiết khác cho việc tiếp công dân tại Trụ sở Ủy ban nhân dân cấp
xã;
c) Phân công người tiếp công dân;
d) Trực tiếp tiếp công dân tại trụ sở
Ủy ban nhân dân cấp xã ít nhất 01 ngày trong 01 tuần và thực hiện việc tiếp
công dân đột xuất trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật
này;
đ) Phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ
chức, đơn vị có liên quan tiếp công dân và xử lý vụ việc nhiều người cùng khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung; bảo đảm an toàn, trật tự cho
hoạt động tiếp công dân;
e) Tổng hợp tình hình, kết quả công tác
tiếp công dân, báo cáo định kỳ và đột xuất với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Chương IV
TIẾP CÔNG DÂN TẠI CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC;
TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN, VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN,
KIỂM TOÁN
NHÀ NƯỚC
Điều 16. Việc tổ
chức tiếp công dân tại cơ quan hành chính nhà nước
1. Bộ, cơ quan ngang bộ thành lập bộ
phận tiếp công dân hoặc bố trí công chức thuộc Thanh tra bộ làm công tác tiếp
công dân.
Việc tiếp công dân của tổ chức trực
thuộc bộ, cơ quan ngang bộ do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định
phù hợp với yêu cầu, tính chất tổ chức và hoạt động của từng tổ chức.
2. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh bố trí công chức thuộc Thanh tra cơ quan làm công tác tiếp công
dân.
Việc tiếp công dân của cơ quan trực
thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và việc tiếp công dân
của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quy định phù hợp với yêu cầu, tính chất tổ chức và hoạt động của
từng cơ quan.
3. Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Văn
phòng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Văn phòng
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp
huyện đã tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở trung
ương, Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh, cấp huyện thì không bố trí địa điểm tiếp
công dân thường xuyên tại cơ quan mình.
Điều 17. Việc tổ
chức tiếp công dân tại Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà
nước
1. Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân
dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các cấp,
Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán nhà nước khu vực có trách nhiệm tổ chức việc tiếp
công dân và bố trí địa điểm tiếp công dân của cơ quan mình để tiếp nhận khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân.
2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định cụ thể việc tổ chức tiếp công dân của
cơ quan mình, của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, của Kiểm
toán nhà nước khu vực.
Điều 18. Trách
nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc tiếp công dân
1. Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức công tác
tiếp công dân của cơ quan mình:
a) Ban hành nội quy, quy chế tiếp công
dân;
b) Bố trí địa điểm thuận lợi cho việc
tiếp công dân; bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ việc tiếp công dân;
c) Phân công cán bộ, công chức làm công
tác tiếp công dân thường xuyên;
d) Phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ
chức, đơn vị có liên quan tiếp công dân và xử lý vụ việc nhiều người cùng khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung;
đ) Kiểm tra, đôn đốc cơ quan, tổ chức,
đơn vị, người có trách nhiệm thuộc quyền quản lý của mình thực hiện các quy
định của pháp luật trong việc tiếp công dân;
e) Có trách nhiệm bảo đảm an toàn, trật
tự cho hoạt động tiếp công dân;
g) Báo cáo tình hình, kết quả công tác
tiếp công dân với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
2. Trực tiếp thực hiện việc tiếp công
dân ít nhất 01 ngày trong 01 tháng tại địa điểm tiếp công dân của cơ quan mình.
3. Thực hiện tiếp công dân đột xuất
trong các trường hợp sau đây:
a) Vụ việc gay gắt, phức tạp, có nhiều
người tham gia, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị
hoặc ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn khác nhau;
b) Vụ việc nếu không chỉ đạo, xem xét
kịp thời có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc có thể dẫn đến hủy hoại tài sản
của Nhà nước, của tập thể, xâm hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh
hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
4. Khi tiếp công dân, người đứng đầu cơ
quan phải có ý kiến trả lời về việc giải quyết vụ việc cho công dân. Trường hợp
chưa trả lời ngay được thì chỉ đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, công chức, viên
chức thuộc quyền quản lý của mình kịp thời xem xét, giải quyết và thông báo
thời gian trả lời cho công dân.
Điều 19. Địa điểm
tiếp công dân
1. Địa điểm tiếp công dân của cơ quan,
tổ chức, đơn vị phải được bố trí tại vị trí thuận tiện, bảo đảm các điều kiện
vật chất cần thiết để công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh được dễ dàng, thuận lợi.
Tại địa điểm tiếp công dân, phải niêm
yết rõ ràng nội quy tiếp công dân của cơ quan, đơn vị, hướng dẫn về quy trình
tiếp công dân, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo
quy định của pháp luật và các thông tin quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật
này.
2. Chính phủ quy định chi tiết việc bố
trí cơ sở vật chất của địa điểm tiếp công dân.
Chương V
TIẾP CÔNG DÂN CỦA CÁC CƠ
QUAN CỦA QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ĐẠI BIỂU HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP
Điều 20. Tiếp công
dân của các cơ quan của Quốc hội
1. Các cơ quan của Quốc hội có trách
nhiệm tổ chức việc tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân của Quốc hội hoặc
nơi tiếp công dân do các cơ quan của Quốc hội lựa chọn khi cần thiết để tiếp
nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cử tri.
2. Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách
nhiệm chỉ đạo, điều hòa, phối hợp và tổ chức việc tiếp công dân của các cơ quan
của Quốc hội, đại biểu Quốc hội.
Ban dân nguyện thuộc Ủy ban thường vụ
Quốc hội có trách nhiệm giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức công
tác tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; đại diện cho
các cơ quan của Quốc hội thực hiện tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp
công dân ở trung ương và địa điểm tiếp công dân của Quốc hội.
3. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của
Quốc hội có trách nhiệm phân công đại diện Thường trực Hội đồng, Thường trực Ủy
ban tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; nghiên cứu và xử
lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, các
Ủy ban của Quốc hội phụ trách; phối hợp với Ban dân nguyện và các cơ quan hữu
quan trong việc tiếp công dân khi cần thiết.
Điều 21. Tiếp công
dân của đại biểu Quốc hội
1. Đại biểu Quốc hội thực hiện việc
tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh hoặc nơi tiếp công dân do Đoàn
đại biểu Quốc hội bố trí theo sự phân công của Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội
hoặc khi thấy cần thiết.
Lịch tiếp công dân của đại biểu Quốc
hội được thông báo cho đại biểu Quốc hội biết chậm nhất là 10 ngày làm việc,
trước ngày có lịch tiếp. Trường hợp không thể tham gia tiếp công dân theo lịch
đã được thông báo, đại biểu Quốc hội báo cáo với Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội
chậm nhất là 05 ngày làm việc, trước ngày có lịch tiếp.
2. Khi công dân có yêu cầu gặp đại biểu
Quốc hội để trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì đại biểu Quốc
hội có trách nhiệm sắp xếp thời gian tiếp công dân; trường hợp chưa thể tiếp
công dân được thì đại biểu Quốc hội cử người nhận đơn hoặc hẹn tiếp công dân
vào thời gian thích hợp.
3. Đoàn đại biểu Quốc hội có trách
nhiệm tổ chức để đại biểu Quốc hội thực hiện việc tiếp công dân; giúp đại biểu
Quốc hội chuyển đơn và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội
đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết.
Điều 22. Tiếp công
dân của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
1. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh,
cấp huyện thực hiện việc tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cùng cấp hoặc
tại nơi tiếp công dân ở địa phương mà đại biểu ứng cử theo sự bố trí của Thường
trực Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã thực
hiện việc tiếp công dân tại Trụ sở Ủy ban nhân dân cùng cấp.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp
xã có trách nhiệm tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình tiếp công dân;
sắp xếp lịch tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân; cử công chức tiếp
công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh, cấp huyện; tổ chức để
đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân tại nơi tiếp công dân ở địa phương mà
đại biểu ứng cử.
3. Đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện
tiếp công dân theo lịch đã được phân công. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm
nghiên cứu, hướng dẫn công dân gửi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến
đúng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp cần
thiết, đại biểu Hội đồng nhân dân trực tiếp hoặc thông qua Thường trực Hội đồng
nhân dân cùng cấp, ở cấp xã thì thông qua Chủ tịch Hội đồng nhân dân chuyển đơn
đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc
giải quyết.
Điều 23. Quy định
chi tiết việc tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội,
Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định chi
tiết việc tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội
đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Chương VI
HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN
CỦA CƠ QUAN,
TỔ CHỨC,
ĐƠN VỊ, CÁ NHÂN
Điều 24. Công bố
thông tin về việc tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân
1. Ban tiếp công dân ở trung ương, Ban
tiếp công dân cấp tỉnh, Ban tiếp công dân cấp huyện có trách nhiệm niêm yết
công khai tại Trụ sở tiếp công dân lịch tiếp công dân của lãnh đạo các cơ quan
Đảng và Nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, danh sách các cơ quan, tổ chức,
đơn vị có đại diện cùng tham dự buổi tiếp công dân và nội dung tập trung giải quyết
tại từng buổi tiếp công dân.
2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách
nhiệm niêm yết công khai thông tin về việc tiếp công dân của cơ quan, tổ chức,
đơn vị mình tại trụ sở cơ quan, tổ chức, đơn vị, tại địa điểm tiếp công dân và
công bố trên trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nếu có).
Nội dung thông tin cần công bố bao gồm:
a) Nơi tiếp công dân;
b) Thời gian tiếp công dân thường
xuyên;
c) Lịch tiếp công dân của người đứng
đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; thành phần tham dự và dự kiến nội dung tiếp công
dân của các buổi tiếp công dân định kỳ.
3. Lịch tiếp công dân của đại diện Hội
đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân được niêm yết công khai tại địa điểm tiếp công dân của Quốc hội, của
Đoàn đại biểu Quốc hội, nơi tiếp công dân của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp
huyện và cấp xã.
4. Lịch tiếp công dân quy định tại
khoản 1, điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều này được niêm yết chậm nhất là 05 ngày
làm việc, trước ngày tiếp công dân; trường hợp không thể thực hiện việc tiếp
công dân theo lịch đã công bố do có lý do chính đáng thì có thể lùi lịch tiếp
công dân sang thời gian khác và phải thông báo cụ thể thời gian dự kiến tiếp
công dân tại nơi tiếp công dân.
Điều 25. Tiếp nhận
và xử lý bước đầu khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Khi công dân đến khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh thì người tiếp công dân có trách nhiệm đón tiếp, yêu cầu họ
nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu
có); tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc hướng dẫn người
đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày nội dung vụ việc.
2. Nội dung trình bày phải được ghi vào
sổ tiếp công dân gồm; số thứ tự, ngày tiếp, họ tên, địa chỉ, nội dung sự việc,
quá trình xem xét, giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền (nếu
có); yêu cầu, đề nghị của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;
việc tiếp nhận, xử lý vụ việc.
Trường hợp người đến khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh chưa có đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì
người tiếp công dân hướng dẫn viết đơn hoặc ghi lại đầy đủ, chính xác nội dung
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh bằng văn bản và yêu cầu họ ký xác nhận
hoặc điểm chỉ; trường hợp nội dung trình bày chưa rõ ràng, đầy đủ thì người tiếp
công dân đề nghị người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày bổ
sung hoặc bổ sung tài liệu, chứng cứ.
3. Trường hợp trong đơn vừa có nội dung
khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì người tiếp công dân
hướng dẫn người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh viết thành đơn riêng
để khiếu nại, tố cáo, kiến nghị hoặc phản ánh với cơ quan, tổ chức, đơn vị có
thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 26. Phân
loại, chuyển nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, người
có thẩm quyền thụ lý, giải quyết
1. Việc phân loại, chuyển nội dung
khiếu nại, tố cáo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền thụ lý,
giải quyết trong quá trình tiếp công dân được thực hiện như sau:
a) Trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình và đủ điều kiện thụ lý
thì người tiếp công dân tiếp nhận thông tin, tài liệu, chứng cứ kèm theo, đồng
thời báo cáo với người có thẩm quyền thụ lý;
b) Trường hợp khiếu nại, tố cáo không
thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì hướng dẫn
người khiếu nại, tố cáo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền để khiếu
nại, tố cáo. Trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ
quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới mà chưa được giải quyết thì người tiếp công dân
báo cáo người có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải
quyết;
c) Trường hợp khiếu nại, tố cáo đã được
giải quyết đúng chính sách, pháp luật thì người tiếp công dân giải thích, hướng
dẫn để người đến khiếu nại, tố cáo chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết
khiếu nại, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo và yêu cầu công dân chấm
dứt việc khiếu nại, tố cáo;
d) Trường hợp nhận được đơn khiếu nại,
tố cáo không do người khiếu nại, người tố cáo trực tiếp chuyển đến thì thực
hiện việc phân loại và xử lý theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
2. Việc phân loại, chuyển nội dung kiến
nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền thụ lý, giải
quyết trong quá trình tiếp công dân được thực hiện như sau:
a) Trường hợp kiến nghị, phản ánh thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì người tiếp công dân
báo cáo người có thẩm quyền để nghiên cứu, xem xét, giải quyết hoặc phân công
bộ phận nghiên cứu, xem xét, giải quyết;
b) Trường hợp kiến nghị, phản ánh không
thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì người tiếp
công dân chuyển đơn hoặc chuyển bản ghi lại nội dung trình bày của người kiến
nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền để nghiên cứu, tiếp
thu, xem xét, giải quyết.
Điều 27. Trách
nhiệm thông báo cho Ban tiếp công dân, người tiếp công dân về việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được chuyển đến
1. Khi nhận được nội dung khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh do bộ phận tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị
mình chuyển đến, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách
nhiệm xem xét, xử lý hoặc phân công bộ phận chuyên môn xem xét, xử lý và thông
báo kết quả xử lý cho người tiếp công dân để thông báo lại cho người đến khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật
này.
2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận được
khiếu nại, tố cáo do cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân, Ban tiếp công dân chuyển đến có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo
quy định pháp luật và thông báo kết quả cho cơ quan, người đã chuyển đơn biết
trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày vụ việc được giải quyết; trường hợp
vụ việc đã được giải quyết trước đó thì thông báo ngay cho cơ quan, người đã
chuyển đơn biết.
Điều 28. Thông báo
kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể
từ ngày tiếp nhận nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, người tiếp
công dân có trách nhiệm trả lời trực tiếp hoặc thông báo bằng văn bản đến người
đã đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một trong các nội dung sau
đây:
a) Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh đã được thụ lý để giải quyết;
b) Việc xem xét khiếu nại, tố cáo để
thụ lý cần kéo dài thời gian do cần xác minh thêm theo quy định của Luật khiếu
nại, Luật tố cáo;
c) Từ chối thụ lý đối với khiếu nại, tố
cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc
không đủ điều kiện thụ lý;
d) Nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh đã được chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm
quyền giải quyết.
2. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm thông báo kết quả giải
quyết khiếu nại, tố cáo cho người khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật
về khiếu nại, tố cáo.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này, cơ quan của
Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban tiếp công dân có
trách nhiệm thông báo cho người khiếu nại, tố cáo về kết quả giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong trường hợp người đó đã có yêu cầu trước đó.
Chương VII
TRÁCH NHIỆM TIẾP VÀ XỬ
LÝ TRƯỜNG HỢP
NHIỀU
NGƯỜI CÙNG KHIẾU NẠI, TỐ CÁO,
KIẾN NGHỊ,
PHẢN ÁNH VỀ MỘT NỘI DUNG
Điều 29. Cử người
đại diện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung
Khi nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh về một nội dung tại nơi tiếp công dân thì người tiếp công
dân yêu cầu những người này phải cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh với người tiếp công dân (sau đây gọi chung là người
đại diện). Người đại diện phải là người khiếu nại, người tố cáo, người kiến
nghị, người phản ánh. Việc cử người đại diện phải thể hiện bằng văn bản có chữ
ký của tất cả những người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Trường hợp có từ năm đến mười người thì
cử một hoặc hai người đại diện; trường hợp có trên mười người thì có thể cử
thêm người đại diện, nhưng không quá năm người. Người đại diện phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc đại diện và văn bản cử người
đại diện.
Điều 30. Tiếp và
xử lý trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một
nội dung tại nơi tiếp công dân
1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn
vị, Trưởng Ban tiếp công dân nơi có nhiều người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh tập trung có trách nhiệm trực tiếp tiếp hoặc cử người đại diện cho
mình tiếp đại diện của những người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ảnh để
lắng nghe người đại diện trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và các thông
tin, tài liệu do họ cung cấp.
Trường hợp những người khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh chưa có đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì
người tiếp công dân yêu cầu người đại diện viết thành văn bản hoặc ghi lại đầy
đủ, chính xác nội dung vụ việc do người đại diện trình bày, đọc lại cho họ nghe
và yêu cầu ký hoặc điểm chỉ để xác nhận.
Trường hợp khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình
thì người tiếp công dân tiếp nhận, xem xét thụ lý để giải quyết và thông báo
cho đại diện của những người khiếu nại, tố cáo về kết quả xử lý theo quy định
của pháp luật; nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ
chức, đơn vị mình thì chuyển đơn hoặc hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
2. Trường hợp khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh phức tạp, có nhiều nội dung, thuộc trách nhiệm của nhiều cấp,
nhiều ngành, đã qua nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, giải quyết hoặc vụ
việc có rất nhiều người tham gia, diễn biến phức tạp thì người đứng đầu cơ quan,
tổ chức, đơn vị hoặc Trưởng Ban tiếp công dân có trách nhiệm:
a) Chủ trì hoặc phối hợp với đại diện
cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan hoặc đại diện Ủy ban nhân dân địa phương
nơi phát sinh khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tiếp người đại diện khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có
liên quan cung cấp thông tin, tài liệu; cử người có trách nhiệm tham gia tiếp
người đại diện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
3. Trường hợp những người đến khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có hành vi kích động, gây rối trật tự hoặc đe
dọa đối với người tiếp công dân, người thi hành công vụ thì người đứng đầu cơ
quan, tổ chức, đơn vị hoặc Trưởng Ban tiếp công dân, người phụ trách địa điểm
tiếp công dân phải kịp thời tăng cường người tiếp công dân; yêu cầu cơ quan
công an hoặc cơ quan chức năng có biện pháp xử lý kịp thời.
Điều 31. Trách
nhiệm phối hợp của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tiếp và
xử lý trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Khi nhận được yêu cầu của người đứng
đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của Trưởng Ban tiếp công dân, người phụ trách
địa điểm tiếp công dân thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan
có trách nhiệm:
a) Cử người có trách nhiệm hoặc trực
tiếp tiếp người đại diện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;
b) Cung cấp thông tin, tài liệu về vụ
việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo yêu cầu của người có thẩm
quyền;
c) Giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền
hoặc chỉ đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của mình giải
quyết vụ việc theo quy định của pháp luật;
d) Chủ trì vận động, thuyết phục, có
biện pháp để công dân trở về địa phương.
2. Thủ trưởng cơ quan công an trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với
Ban tiếp công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan áp dụng các biện pháp
bảo đảm trật tự công cộng tại nơi có nhiều người cùng đến khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh về một nội dung; xử lý người có hành vi vi phạm theo quy
định của pháp luật.
Điều 32. Trách
nhiệm của Tổng Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
1. Tổng Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng
Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn,
kiểm tra, đôn đốc Chủ tịch Ủy ban nhân dân, cơ quan công an, cơ quan thanh tra
các cấp và các cơ quan khác của Nhà nước trong việc xử lý trường hợp nhiều
người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp với Thanh tra
Chính phủ, Bộ Công an trong việc xử lý trường hợp nhiều người cùng khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung tại Trụ sở tiếp công dân ở trung
ương khi được yêu cầu.
Chương VIII
ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CHO
HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN
Điều 33. Điều kiện
bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân
1. Nhà nước có chính sách, bảo đảm kinh
phí đối với hoạt động tiếp công dân, áp dụng công nghệ thông tin và các phương
tiện kỹ thuật khác để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý
đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân phục vụ công tác
tiếp công dân.
2. Chính phủ quy định chi tiết về các
điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân.
Điều 34. Tiêu
chuẩn, chế độ, chính sách đối với người tiếp công dân
1. Người tiếp công dân phải là người có
phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn, nắm vững chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, am hiểu thực tế, có khả năng vận động, thuyết phục quần
chúng, nhiệt tình, bảo đảm yêu cầu về sức khỏe và có trách nhiệm đối với nhiệm
vụ được giao.
2. Người làm công tác tiếp công dân
được hưởng chế độ bồi dưỡng tiếp công dân và các chế độ khác theo quy định của
Chính phủ.
Chương XI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 35. Hiệu lực
thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 7 năm 2014.
Những quy định về tiếp công dân tại
Chương V của Luật Khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 26/2004/QH11 và Luật số 58/2005/QH11, Chương V của
Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có
hiệu lực.
Điều 36. Quy định
chi tiết
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
các cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền quy định chi tiết các điều, khoản được
giao trong Luật.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25 tháng
11 năm 2013./.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
(Đã ký)
Nguyễn Sinh Hùng
|